Hạn ngạch là gì? Quota là gì? Vai trò thế nào...?

Bạn có hiểu cụm từ hạn ngạch là gì trong các ví dụ sau hay không?

  • EU dành cho Việt Nam hạn ngạch 80.000 tấn gạo mỗi năm
  • Lượng đường trong hạn ngạch thuế quan nhập khẩu năm 2021 là 108.000 tấn

Cụm từ “hạn ngạch” xuất hiện khá nhiều trên các phương tiện truyền thông khi nói về sản lượng xuất nhập khẩu một số mặt hàng nào đó.

Vậy cụ thể nó có ý nghĩa là gì, và có vai trò gì trong quản lý của Nhà nước về xuất nhập khẩu? Trong bài viết này, Vinalogs chúng tôi sẽ giải thích để bạn hiểu rõ nội dung và cách áp dụng trong thực tế.

Trước hết là khái niệm… 

Hạn ngạch là gì?

Hạn ngạch là số lượng, khối lượng, hoặc trị giá một mặt hàng mặt hàng nào đó được Nhà nước ấn định, trong đó nêu rõ các doanh nghiệp được phép xuất hoặc nhập khẩu trong 1 thời hạn nào đó. Từ “hạn ngạch” trong tiếng Anh là “quota”, đọc là cô-ta.

Hạn ngạch là gìHạn ngạch là gì? Quota là gì?

Quay lại ví dụ chúng tôi nêu ở đầu bài viết, xem chúng có ý nghĩa như thế nào.

EU dành cho Việt Nam hạn ngạch 80.000 tấn gạo mỗi năm => Nghĩa là lượng gạo mỗi năm Việt Nam được xuất khẩu vào thị trường EU tối đa là 80.000 tấn, không được vượt quá.

Trong ví dụ này, hạn ngạch chính là hạn mức khối lượng của một mặt hàng (gạo), được khối EU cấp phép chấp nhận nhập khẩu vào thị trường chung của khối trong khoảng thời gian 1 năm.

Đó chính là hạn ngạch nhập khẩu - hạn chế trực tiếp về số lượng một số hàng hóa được nhập khẩu vào một nước. Hạn chế này thường được thực hiện dưới dạng ban hành các giấy phép nhập khẩu cho một nhóm các cá nhân hoặc công ty từ 1 (nhóm) quốc gia nào đó.

Ở chiều ngược lại, quốc gia xuất khẩu là Việt Nam sẽ chỉ được đưa 1 lượng hàng tương ứng (80.000 tấn) vào EU. Đó chính là hạn ngạch xuất khẩu - là lượng tối đa 1 mặt hàng mà các doanh nghiệp Việt được xuất khẩu vào thị trường nào đó.

>> Tìm hiểu thêm về hạn ngạch xuất khẩu

Với ví dụ thứ 2 ở trên, có liên quan đến hạn ngạch thuế quan, thì khái niệm này có hơi khác.

Hạn ngạch thuế quan là gì?

Hạn ngạch thuế quan là một biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để quyết định số lượng, khối lượng, trị giá của hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa xuất khẩu được hưởng mức thuế suất ưu đãi hơn so với mức thuế suất ngoài hạn ngạch. Đây là quy định trong Luật quản lý ngoại thương 2017.

Trong ví dụ lúc đầu:

Lượng đường trong hạn ngạch thuế quan nhập khẩu năm 2021 là 108.000 tấn => trong mức hạn ngạch này, 5 doanh nghiệp (trúng đấu giá) được nhập và hưởng mức thuế ưu đãi hơn mức nhập khẩu thông thường, mức chênh lệch giữa 2 mức thuế thường là rất cao.

Biện pháp dùng hạn ngạch này thường được áp dụng đối với những loại hàng hóa có tầm quan trọng đặc biệt với nền kinh tế đất nước. Cụ thể như các mặt hàng: đường, muối, thuốc lá, trứng gia cầm… Cụ thể trong Thông tư 12/2018/TT-BCT.

Mục đích của chính sách áp dụng hạn ngạch nhập khẩu

Việc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu có một số mục đích quan trọng như sau:

  • Bảo vệ thị trường trong nước khỏi ảnh hưởng tiêu cực từ hàng hóa cùng loại nhập khẩu từ nước ngoài (thường có giá rẻ hơn, chất lượng và thương hiệu tốt hơn, hoặc cả 3 yếu tố này)
  • Điều chỉnh giảm thâm hụt cán cân thanh toán, bảo toàn tốt hơn nguồn ngoại hối của quốc gia.
  • Điều tiết thị trường, giảm bớt tiêu thụ với những dòng hàng không được khuyến khích tiêu dùng (thường là hàng xa xỉ).

Điều kiện để được áp dụng hạn ngạch

Không phải trong trường hợp nào cũng có thể áp dụng được hạn ngạch. Quá trình sử dụng hạn ngạch cần phải được sự cho phép của Cơ quan quản lý chuyên ngành của mỗi quốc gia. Trong đó, các cơ quan này sẽ căn cứ theo các điều luật hoặc hiệp định mà quốc gia của họ đã tham gia, chẳng hạn như Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Thông thường, hạn ngạch sẽ được áp dụng trong một số những trường hợp nhất định như:

  • Hạn ngạch với mục đích bảo vệ các loài động vật quý hiếm
  • Hạn ngạch bảo vệ sức khỏe con người
  • Hạn ngạch bảo vệ đạo đức xã hội
  • Hạn ngạch đem tới những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, khảo cổ…

Nhưng bên cạnh đó, hạn ngạch được WTO quy định kèm theo những điều kiện (tùy theo mỗi quốc gia) phải lưu ý để áp dụng như:

  • Những quốc gia bị hạn chế sản xuất tiêu dùng những mặt hàng hóa ở các thị trường khác trong nước.
  • Các quốc gia thực hiện những cam kết về sử dụng và thay đổi hạn ngạch của mình không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các thành viên trong các quốc gia cũng như nới lỏng những quy định mức hạn ngạch sau khi kinh tế có dấu hiệu chuyển biến và phục hồi, phát triển sẽ dỡ bỏ hoàn toàn để thực đúng nhưng những nguyên tắc của WTO.
  • Hạn ngạch mang tính pháp lý cao và áp dụng trong thời gian nhất định bởi vậy trong quá trình áp dụng hạn ngạch các quốc gia cần phải nhanh chóng công bố thời gian cũng như thay đổi hạn ngạch nhanh chóng và chi tiết nếu có.

Tuy nhiên, tại Điều XVIII – GATT ban hành năm 1994, Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) cũng cho phép các quốc gia được áp dụng hạn ngạch trong các trường hợp đặc biệt như sau:

  • Các quốc gia được áp dụng các quy định về hạn ngạch nhằm khắc phục sự khan hiếm trầm trọng của thị trường về lương thực, thực phẩm hay yếu phẩm cần thiết khác.

Ví dụ: Hạn ngạch xuất khẩu gạo, gỗ, than, dầu.

Các quốc gia được áp dụng hạn ngạch trong trường hợp nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại, giúp đỡ việc thanh toán bên ngoài. Các quốc gia được áp dụng hạn ngạch trong trường hợp thị trường tại quốc giá đó đang có dấu hiệu thâm hụt nặng nề và nghiệm trọng trong các vấn đề như dự trữ tiền tệ, hay số dự trữ hàng hóa hiện tại hiện quá ít và cần được bổ sung và nâng cao mức dự trữ mặt hàng hay nhóm hàng hóa đó lên một cách hợp lý nhất. 

Bên cạnh đó, đối với những trường hợp của các nước đang phát triển thì có thể áp dụng được hạn ngạch tại các chương trình trợ giúp của chính phủ trong việc đẩy mạnh và phát triển kinh tế, hay cũng có thể là hạn chế việc nhập khẩu hàng hóa để bảo vệ sự phát triển ổn định cho một số ngành công nghiệp trong nước.

Các hình thức hạn ngạch

Một hình thức kết hợp thường thấy giữa hạn ngạch và thuế quan được biết đến đó là...

Hạn ngạch thuế quan (tariff rate quota)

Theo hình thức này thì một mức thuế quan thấp hơn sẽ được áp dụng cho lượng hàng hóa nhập khẩu trong giới hạn của hạn ngạch so với lượng hàng nhập khẩu vượt khỏi hạn ngạch. 

Ví dụ, một mức thuế theo giá trị là 10% được đánh lên gạo nhập khẩu vào Hàn Quốc trong hạn mức 1 triệu tấn, còn lượng gạo vượt ra khỏi hạn mức 1 triệu tấn đó sẽ chịu mức thuế suất cao hơn hẳn là 80%. Như vậy, nếu Hàn Quốc nhập khẩu 2 triệu tấn gạo thì 1 triệu tấn sẽ chịu thuế suất 10% còn 1 triệu tấn còn lại chịu thuế suất 80%. Hạn ngạch thuế quan được áp dụng nhiều trong nông nghiệp với mục đích hạn chế lượng nhập khẩu vượt quá hạn mức cho phép.

Một hình thức khác của hạn ngạch nhập khẩu là...

Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER)

Đó là cách quy định một mức hạn ngạch được áp dụng bởi nước xuất khẩu, và thường là theo yêu cầu của chính phủ nước nhập khẩu. Một trong những ví dụ nổi tiếng trong lịch sử về VER là hạn chế về số lượng ô tô xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ của các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản vào năm 1981. Trước sức ép từ chính phủ Hoa Kỳ, Nhật Bản đã phải cam kết hạn chế lượng ô tô xuất khẩu sang thị trường này ở số lượng không vượt quá 1,68 triệu chiếc một năm. Định mức này đã được nâng lên thành 1,85 triệu chiếc vào năm 1984. Đến năm 1985, đáng lẽ thỏa thuận này hết hiệu lực pháp lý nhưng chính phủ Nhật Bản vẫn giữ nguyên mức 1,85 triệu chiếc do lo ngại các căng thẳng về thương mại có thể phải đối mặt nếu tăng con số này lên.

Cũng giống như thuế quan và trợ cấp, cả hạn ngạch nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER) đều mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất nội địa dựa trên việc hạn chế sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. Một hạn ngạch nhập khẩu hoặc VER luôn làm tăng giá bán trong nước của hàng nhập khẩu. Khi thị phần của hàng nhập khẩu được giới hạn ở một tỷ lệ phần trăm nhất định bởi việc áp dụng hạn ngạch và VER thì kéo theo mức giá sẽ tăng lên tương ứng với mức cung từ bên ngoài bị giới hạn đó. Trường hợp hạn chế xuất khẩu tự nguyện đối với ô tô Nhật Bản đề cập ở trên đã làm tăng giá bán của mặt hàng này tại thị trường Hoa Kỳ.

Theo một nghiên cứu của Ủy ban thương mại liên bang Hoa Kỳ, hạn chế xuất khẩu tự nguyện đối với ô tô đã khiến người tiêu dùng Hoa Kỳ phải trả thêm khoảng 1 tỷ đô mỗi năm trong khoảng thời gian từ năm 1981 đến 1985. Khoản tiền này sẽ chảy vào túi của các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản dưới hình thức giá bán cao hơn. Lợi nhuận phụ trội mà các nhà sản xuất thu được khi mức cung bị giới hạn một cách giả tạo bởi hạn ngạch nhập khẩu được gọi là tiền thuê hạn ngạch (quota rent).

Nếu như ngành sản xuất trong nước không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thì hạn ngạch nhập khẩu có thể làm tăng giá đối với cả hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. Điều này trên thực tế đã xảy ra trong ngành sản xuất đường của Hoa Kỳ khi mà hạn ngạch thuế quan trong một thời gian dài đã hạn chế lượng đường mà các nhà sản xuất nước ngoài có thể bán trên thị trường nước Hoa Kỳ. Theo một nghiên cứu, các hạn ngạch nhập khẩu đã làm cho giá đường ở Hoa Kỳ cao hơn tới 40% so với mức giá thế giới. Các mức giá cao hơn đó chuyển hóa thành lợi nhuận nhiều hơn cho các nhà sản xuất đường của Hoa Kỳ, những người vốn đã thực hiện vận động hành lang đối với các chính trị gia để giữ được các thỏa thuận hấp dẫn đó. Họ lập luận rằng nếu như hệ thống hạn ngạch của đường bị loại bỏ thì việc làm của nước Hoa Kỳ trong ngành đường sẽ mất về tay các nhà sản xuất nước ngoài.

Hạn ngạch có giống với thuế quan hay không?

Cơ chế quản lý bằng hạn ngạch có tác động không giống với thuế quan ở chỗ nó cho biết trước số lượng hàng hoá được nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Điều tiết hệ thống kinh tế ngoại thương thông qua thuế quan sẽ làm tăng thu ngân sách của chính phủ nhưng điều tiết bằng hạn ngạch chỉ làm tăng thu nhập cho cơ quan kinh doanh nhận được hạn ngạch. Tuy vậy do trong tình hình kinh tế thế giới hiện nay có xu hướng tự do hoá thương mại và xoá bỏ hàng rào thuế quan nên nhằm bảo hộ sản xuất trong nước các chính phủ thường dùng hệ thống hạn ngạch.

Hạn ngạch là công cụ quan trọng để can thiệp điều tiết khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của một quốc gia, thông qua hạn ngạch cho phép chính phủ ước đoán tương đối chính xác lượng hàng xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ. Trong khi đó thông qua thuế quan chính phủ không thể dự báo trước được khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu vì nó thay đổi phụ thuộc vào giá cả thị trường quốc tế.

Quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu dưới hình thức hạn ngạch có những đặc điểm sau đây khác với hệ thống giấy phép xuất nhập khẩu:

  • Trong hạn mức khống chế mức tối đa lượng hàng (bằng hiện vật hoặc bằng giá trị) được phép xuất khẩu hoặc được phép nhập khẩu.
  • Quy định thời gian có hiệu lực của hạn mức (năm, tháng, quý). Năm 2002 Việt Nam được cấp hạn ngạch xuất khẩu may mặc sang thị trường EU với tổng giá trị gần……. triệu USD. Tuy nhiên vào năm 2005 chế độ hạn ngạch sẽ bị bãi bỏ, tuy không còn hạn chế định lượng, nhưng đồng thời Việt nam cũng không được hưởng ưu đãi GSP. Vì vậy đòi hỏi sản phẩm dệt may của Việt nam phải nâng cao khả năng để duy trì trên thị trường này.
  • Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế của từng nước mà ta quy định danh sách những hàng hoá xuất hoặc nhập khẩu quản lý bằng hạn ngạch. Ngoài ra còn có các loại hạn ngạch cấp cho các loại hàng hoá xuất hoặc nhập khẩu được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan.

Trên đây, chúng tôi đã giải thích chi tiết các khái niệm hạn ngạch là gì, quota là gì, cũng như vai trò của công cụ này với nền kinh tế đất nước. Hy vọng bài viết đem lại thông tin mà bạn đang tìm kiếm. Cảm ơn bạn đã đọc đến phần cuối cùng của bài.

Nhân tiện, công ty chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ giao nhận vận chuyển quốc tế, cũng như có thế mạnh về thông quan hàng xuất nhập khẩu tại Hải Phòng. Rất vui được kết nối và phục vụ các bạn.


New! Comments

Have your say about what you just read! Leave me a comment in the box below.