Các tuyến vận tải biển quốc tế quan trọng nhất hiện nay

Bạn muốn tìm hiểu các tuyến vận tải biển quốc tế để biết mức độ giao thương giữa các khu vực? Và cũng có thể biết Việt Nam chúng ta đang nằm ở đâu trên các tuyến giao thông huyết mạch của toàn cầu?

Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những thông tin và hiểu biết về chủ đề đó. Bao gồm các tuyến đường kết nối các khu vực kinh tế phát triển, các tuyến đường đặc thù theo loại hàng. Và ở phần cuối sẽ đề cập tới các eo biển và kênh đào với vai trò quan trọng như các “nút thắt” đối với các tuyến hàng hải toàn cầu.

Khái niệm tuyến vận tải biển quốc tế

Trong bài này, thuật ngữ “tuyến vận tải biển” được hiểu là các tuyến đường trên biển mà tàu lớn thường đi qua trong hành trình từ các cảng xếp hàng đến cảng dỡ hàng, thường ở các quốc gia khác nhau. Tiếng Anh gọi là sea shipping route. Tuyến đường nào cảng có nhiều tàu bè đi qua, thì càng có vai trò quan trọng. Các tuyến chính là tuyến có mật độ lớn nhất.

Nếu tổng hợp và thể hiện đường đi cũng như sản lượng hàng của các tuyến vận tải biển trên bản đồ, thì ta có thể thấy trực quan như hình sau:

Major container shipping routesCác tuyến vận tải biển quan trọng (Nguồn: cello-square.com)

Đó là minh họa cho giai đoạn hiện nay. Các đường màu cam thể hiện hướng đi cũng như mức độ tấp nập, bận rộn: đường càng đậm nghĩa là càng nhiều tàu và hàng qua lại.

Thông thương toàn cầu sử dụng nhiều phương thức vận tải, nhưng trong bài này chỉ nói đến các tuyến đường sử dụng cho phương thức vận tải biển quốc tế.

Trong lịch sử, trước đây các con tàu buồm sử dụng sức gió và các dòng hải lưu để xác định lộ trình. Các tuyến hành hải do đó phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên. Ban đầu, những người đi biển phải sử dụng các cột mốc cố định nào đó ở ven biển (coastal landmarks - dãy núi, vịnh, doi đất…) để định vị, các tuyến vận chuyển thời đó bị hạn chế nhiều về khoảng cách (không xa bờ). Về sau, khi người ta học được cách xác định được tọa độ chính xác nhờ các yếu tố thiên văn, các chuyến đi biển xa trở nên thuận tiện hơn.

Khi động công nghệ cơ ra đời, tàu biển không còn chạy bằng năng lượng gió nữa, mà sử dụng động cơ hơi nước, động cơ đốt trong… để hành trình. Các tuyến đường biển cũng dần thay đổi cho đến hiện nay.

Cơ sở hình thành các tuyến vận tải biển quốc tế

Nhu cầu giao thương hàng hóa

Mỗi con tàu chở hàng thường xuất phát từ cảng xếp hàng và hành trình đến cảng đích trả hàng. Trên một tuyến đường giữa 2 cảng (hoặc 2 khu vực) có thể ít hoặc nhiều tàu qua lại, tùy theo mức độ thông thương. Nhu cầu ít tuyến đường đó không phổ biến và ít quan trọng. Nhưng khi số lượng tàu và lượng hàng lưu chuyển trên 1 tuyến đường tăng nhiều, thì tuyến đó trở nên quan trọng.

Trên thực tế, nhu cầu giao thương kéo theo nhu cầu vận chuyển. Các khu vực giao thương càng nhiều với nhau thì có lượng tàu bè vận chuyển kết nối càng lớn.

Nói như vậy nghĩa là, cơ sở hình thành các tuyến vận tải quan trọng trên thế giới xuất phát từ nhu cầu giao thương giữa các vùng kinh tế phát triển trên thế giới với nhau (và với các vùng khác). Do đó cũng có thể coi các tuyến vận tải biển là các “tuyến thương mại”. Cho đến gần đây thì có 3 khu vực kinh tế phát triển nổi bật với lượng hàng và tàu qua lại lớn nhất toàn cầu:

  • Bắc Mỹ
  • Châu Âu
  • Đông Á

Từ các khu vực này, hình thành nên các tuyến đường hàng hải trọng yếu giúp lưu thông hàng hóa hỗ trợ cho thông thương.

Ở các khu vực còn lại, sự phát triển kinh tế và nhu cầu vận chuyển thấp hơn, nên hình thành những tuyến thương mại khác với lượng hàng và lượng tàu ít hơn. Có thể kể tới như: châu Đại Dương, Nam Mỹ, châu Phi (hạ Sahara).

Điều kiện cho phép

Ngoài nhu cầu giao thương giữa các khu vực, việc hình thành tuyến đường biển còn phụ thuộc vào điều kiện có thuận lợi hay không, gồm cả các yếu tố tự nhiên lẫn con người. Điển hình có thể nói tới:Công nghệ đóng và vận hành tàu: công nghệ đóng tàu lớn cho phép di chuyển trên quãng đường xa, và chuyên chở được nhiều hàng hóa hơn. Chẳng hạn, các tàu Capesize trong hành trình Á-Âu buộc phải đi vòng qua mũi Cape Hope chứ không thể sử dụng kênh đào Suez.

  • Các nút thắt trên tuyến: cho phép tàu hành trình an toàn tới cỡ tàu nào. Chẳng hạn kênh đào Panama hay Suez chỉ cho phép tàu trọng tải tối đa mức nào đó đi qua (chi tiết trong phần cuối về các nút thắt trên tuyến vận tải).
  • Tính an toàn cho tàu bè qua lại: có bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nhân họa như chiến tranh hay cướp biển hay không. Chẳng hạn các vùng biển Malacca hay Somali thường bị xem là rủi ro cướp biển. Gần đây, xung đột Biển Đỏ làm cho nhiều hãng tàu từ bỏ tuyến đường qua vùng biển này, và sử dụng tuyến thay thế kéo dài thêm gần 2 tuần hành hải.
  • Công nghệ đóng và vận hành tàu: công nghệ đóng tàu lớn cho phép di chuyển trên quãng đường xa, và chuyên chở được nhiều hàng hóa hơn. Chẳng hạn, các tàu Capesize trong hành trình Á-Âu buộc phải đi vòng qua mũi Cape Hope chứ không thể sử dụng kênh đào Suez.

Chi phí và thời gian khả thi

Khi đã có nhu cầu giao thương và khả năng cung cấp dịch vụ vận tải biển, còn yếu tố khác nữa giúp hình thành nên tuyến đường. Đó là chi phí vận chuyển phải hợp lý, thời gian hành trình chấp nhận được. Nghĩa là thời gian và chi phí phải khả thi để đưa nhu cầu của 2 bên gặp nhau: bên vận chuyển và bên thuê vận chuyển.

3 nhóm mặt hàng quan trọng

Ngoài nhu cầu tổng thể vận chuyển các loại hàng giữa các khu vực địa lý, với mỗi nhóm hàng cụ thể có thể lại có những tuyến đường vận chuyển riêng phù hợp với nhu cầu của riêng thị trường hàng hóa đó. Phần dưới đây sẽ chi tiết hơn về 3 nhóm quan trọng:

  • Các tuyến vận chuyển hàng container
  • Các tuyến vận chuyển hàng lỏng (liquid bulk)
  • Các tuyến vận chuyển hàng rời đổ đống (dry bulk)

Khi nói đến vai trò của các tuyến đường, cũng cần để ý đến tổng lượng hàng hóa lưu thông trên toàn cầu trong mỗi năm để có cái nhìn tổng thể. Theo thống kê của statista.com, lượng hàng hóa vận chuyển bằng tàu biển lên tới gần 11 tỷ tấn vào năm 2021, trong đó:

  • dầu thô 1,7 tỷ tấn (15,5%),
  • sản phẩm dầu 1,252 tỷ tấn (11,4%),
  • hàng khô 8,033 tỷ tấn ~ 73,1% (bao gồm hàng container khoảng 1,95 tỷ tấn ~ 17,8%).

Có thể thấy tổng khối lượng hàng vận chuyển đường biển biểu thị bằng đường màu đen trong đồ thị dưới đây qua các năm từ 1955-2021.

International seaborne trade exportsLượng hàng vận chuyển đường biển (Nguồn: transportgeography.org)

Phía trên là thống kê theo khối lượng hàng hóa bằng đơn vị tấn.

Nếu tính theo khối lượng luân chuyển (tấn-kilomet) của các nhóm mặt hàng chính qua các năm, ta có thể xem biểu đồ dưới đây:

World seaborne trade cargo typeHàng hóa luân chuyển toàn cầu (Nguồn: transportgeography.org)

Trong phần tiếp theo, ta sẽ xem xét các tuyến thương mại chính cho từng nhóm mặt hàng trong biểu đồ trên:

  • Tuyến hàng container
  • Tuyến hàng dầu mỏ và sản phẩm hóa dầu (gồm khí gas và hóa chất)
  • Tuyến hàng rời

Các tuyến vận tải biển chính trên toàn cầu (hàng container)

Như trên tôi đã nói đến 3 khu vực kinh tế phát triển là Bắc Mỹ, Tây Âu, và Viễn Đông. Các khu vực này kết nối với nhau chủ yếu theo trục Đông - Tây trên biển (xem hình dưới).

East-west trade routesCác tuyến thương mại theo hành lang Đông-Tây (Nguồn: slideshare.net)

Theo trục này, hình thành nên 3 tuyến vận tải biển tấp nập nhất: xuyên Đại Tây Dương, xuyên Thái Bình Dương, và Á-Âu.

Nếu muốn xem số liệu thống kê 3 tuyến này theo nhiều năm, có thể xem bảng dữ liệu do UNCTAD cung cấp trong Review of Maritime Transport 2023 (trang 40) như hình dưới:

Containerized trade on major East—West trade routesLượng hàng container trên các tuyến Đông-Tây (Nguồn: UNCTAD)

Xem xét 3 tuyến chính này có tổng trên 60,9 triệu TEU, chiếm gần 37,5% so với tổng sản lượng hàng container toàn cầu 162,5 triệu TEU trong năm 2022, chi tiết trong bảng tiếp theo đây (UNCTAD - trang 41):

(ảnh số liệu)

Containerized trade on main East—West and other containerized trade routesLượng container vận chuyển trên các tuyến chính (Nguồn: UNCTAD)

Chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu chi tiết từng tuyến.

1. Tuyến vận tải xuyên Đại Tây Dương (Trans-Atlantic)

Tuyến vận tải này kết nối các cảng chính ở Bắc Mỹ với Bắc u và Địa Trung Hải. Từ những phần khác của 2 lục địa này (Nam Mỹ, Đông u) không được thống kê vào tuyến này.

  • Các cảng chính ở phía đông của lục địa Bắc Mỹ thuộc Hoa Kỳ (Savannah, Charleston, New York, Philadelphia, Baltimore, Boston…) và Canada (Montreal, Halifax…)
  • Các cảng lớn của các quốc gia Bắc u và Địa Trung Hải như Pháp (Le Havre), Anh (Felixstowe), Thụy Điển (Gootebug), Đức (Hamburg, Bremerhaven), Bỉ (Antwerp), Hà Lan (Rotterdam)...

Đây là tuyến vận tải đầu tiên sử dụng container và được “container hóa” trong lịch sử phát triển của phương thức vận tải bằng container.

Từ bảng thống kê của UNCTAD phía trên có thể thấy tuyến xuyên Đại Tây Dương đảm nhiệm 8,5 triệu TEU so với các tuyến xuyên Thái Bình Dương (28,2 triệu TEU) và tuyến Á- Âu (24,2 triệu TEU).

2. Tuyến vận tải xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific)

Tuyến này kết nối các cảng biển thuộc vùng Đông Á đến các cảng phía tây của Bắc Mĩ, bằng hành trình qua Thái Bình Dương.

  • Các cảng nằm ở khu vực Đông Á tại các quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc (Shanghai, Ningbo, Shenzhen, Hongkong), Nhật Bản (Nagoya, Tokyo), Hàn Quốc (Busan), Đài Loan (Kaohsiung), và các nước Đông Nam Á (Singapore, Cát Lái - Việt Nam, Bangkok - Thái Lan, Jakarta - Indonesia, Port Klang - Malaysia)...
  • Các cảng phía đông Hoa Kỳ (Tacoma, Oakland, Los Angeles, Long Beach) và Canada (Vancouver, Prince Rupert).

Như số liệu trong bảng trên của năm 2022, tuyến Trans-Pacific đảm nhiệm 28.2 triệu TEU chiếm khoảng 17,4% của toàn cầu (162,5 triệu TEU). Có thể thấy đây là tuyến vận tải biển bận rộn nhất trên thế giới.

Việt Nam chúng ta nằm trên tuyến Trans-Pacific với phía tây của Bắc Mỹ, và tuyến Á-Âu kết nối với Ấn Độ và Bắc u. Các cảng chính có khả năng đón tàu mẹ gồm Cái Mép (ở phía Nam) và Lạch Huyện (ở Phía Bắc).

Ghi chú: Với hàng từ khu vực Viễn Đông sang bờ Đông của Hoa Kỳ, có thể vẫn sử dụng tuyến Trans-Pacific, đi vòng qua kênh đào Panama hoặc kết hợp với đường sắt từ bờ Tây sang bờ Đông.

3. Tuyến vận tải Á-Âu (Asia-Europe)


Tuyến này đứng thứ 2 về mức độ nhộn nhịp, chỉ sau tuyến xuyên Thái Bình Dương. Số liệu trên cho thấy, tuyến Á- Âu chiếm gần 15% toàn cầu với con số là 24,2 triệu TEU.

Tham gia vào tuyến có các cảng biển lớn nằm ở 2 khu vực chính dưới đây (không gồm vùng Tây Á và tiểu lục địa Ấn Độ):

  • Khu vực Đông Á (Viễn Đông): các cảng biển lớn của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc (gồm Hồng Kông và Đài Loan), và các nước Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam).
  • Khu vực Bắc Âu và Địa Trung Hải.

Các tuyến thương mại chính theo một số mặt hàng khác

1. Tuyến vận tải dầu thô và sản phẩm dầu mỏ (crude oil & petroleum products)

Trên phạm vi toàn cầu, đã có khoảng 1,95 tỷ tấn dầu thô được vận chuyển bằng đường biển vào năm 2022.

Các tuyến vận chuyển dầu thô phổ biến nhất bắt nguồn từ Trung Đông. Theo đó, các tàu chở dầu đi qua eo biển Bab-el-Mandeb, ngăn cách Djibouti (thuộc châu Phi) với Yemen (châu Á), hay eo biển Hormuz, là tuyến đường vận chuyển dầu chính của thế giới, ngăn cách Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Oman với Iran. Sau đó, từ các địa điểm này các tàu chở dầu sẽ hành trình mất 2-4 tuần để tới các khu vực:

  • Hoa Kỳ và phần còn lại của Bắc và Nam Mỹ (qua Mũi Hảo Vọng).
  • Châu Á (qua eo biển Malacca nằm giữa Sumatra và Malaysia).
  • Châu u (qua Kênh đào Suez hoặc, nếu tàu quá lớn, sẽ đi vòng qua Mũi Hảo Vọng, sau đó tới Bắc u qua Eo biển Dover).
World trade and transport of crude oilCác tuyến thương mại và vận chuyển dầu thô (Nguồn: researchgate.net)

2. Tuyến vận tải hàng rời (dry bulk)

Hàng rời khối lượng lớn thường gồm những loại chính: quặng sắt, than đá, ngũ cốc…

  • Quặng sắt: chủ yếu chuyển từ các nước như Brazil và Australia đến Trung Quốc, và các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh Châu u.
  • Than đá: sử dụng cho các nhà máy điện và thép, vận chuyển chính từ Indonesia, Australia, Hoa Kỳ, Nga... tới các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ...
  • Ngũ cốc: gồm các loại như lúa mì, ngô, đậu nành, lúa mạch... tuyến vận chuyển chính xuất phát từ các quốc gia xuất khẩu như Mỹ, Canada, Nga, Argentina tới các nước nhập khẩu như Trung Quốc, Nhật Bản, châu u…

Ngoài ra còn có các mặt hàng rời phụ như: phân bón, thép, xi măng, đường… cũng có tuyến vận chuyển như hình vẽ dưới đây.

Global drybulk trade and key routesCác tuyến vận chuyển hàng rời (Nguồn: moram.eu)

Các nút thắt trên các tuyến vận tải biển chính

Trên các tuyến thương mại chính có các nút thắt, hay điểm nghẽn (chokepoint) có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động của tàu bè.

Main sea transport chokepointsMột số điểm nghẽn lớn trên các tuyến vận tải biển (Nguồn: dryadglobal.com)

Hành trình vận tải biển quốc tế hiện gặp phải một số các nút thắt quan trọng sau:

  • Kênh đào Panama: nối Thái Bình Dương và Đại Tây Dương
  • Kênh đào Suez: nối vùng Viễn Đông với Tây Âu qua biển Địa Trung Hải
  • Eo biển Malacca: nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương trên tuyến huyết mạch Á - Âu

Ngoài ra, còn có những vùng biển được coi là các nút thắt phụ, cũng có vai trò quan trọng trong giao thương đường biển. Trong đó có thể kể tới các eo biển (Strait):

  • Magellan Passage
  • Dover Strait
  • Sunda Strait
  • Taiwan Strait

Tóm lược:

Trong bài này tôi đã nêu rõ các tuyến vận tải chính tương ứng với các nhóm mặt hàng quan trọng. Thông tin cần lưu tâm là sản lượng hàng trên các tuyến chính, và tỷ trọng so với tổng thể.

Lấy số liệu năm 2021, lượng hàng vận chuyển biển toàn cầu là gần 11 tỷ tấn, gồm: dầu thô (tấn), sản phẩm dầu (tấn) hàng khô (tấn).

Trong nhóm hàng khô, hàng container 1,95 tấn (163,6 triệu TEU). Năm 2022 khối lượng vận chuyển container toàn cầu giảm còn 162,5tr TEU. Trong đó 3 tuyến chính: Trans-Atlantic 8,5 triệu TEU (5,23%), Trans-Pacific 28,2 triệu TEU (17,4%), và tuyến Á-Âu 24,2 triệu TEU (gần 15%).

Hy vọng bài viết đem lại cho bạn những thông tin hữu ích về các tuyến vận tải biển quốc tế quan trọng hiện nay.


New! Comments

Have your say about what you just read! Leave me a comment in the box below.